HOTLINE: +84 913.135.453

Rủi ro khi mua bán ô tô cũ bằng việc ký hợp đồng ủy quyền

Autopress.vn - Trong thực tiễn, không ít các giao dịch mua bán chuyển nhượng mà đặc biệt là ô tô vì một số lý do mà các bên lựa chọn Hợp đồng uỷ quyền. Với cách mua đi bán lại theo kiểu "lách luật" này sẽ xảy ra những rủi ro không lường trước được.
 
Theo quy định của Bộ Tài chính, mỗi lần mua bán xe cũ, người mua phải chịu một lần thuế (tương tự như đăng ký xe mới).

Với mức phí đăng ký như hiện nay, người mua xe đang tìm cách "lách luật" bằng những bản hợp đồng công chứng về việc ủy quyền quản lý và sử dụng xe có thời hạn.

Trong thời gian người được ủy quyền (người mua) có nhu cầu bán xe thì có thể nhờ lại người ủy quyền cho mình đến văn phòng công chứng "hủy ủy quyền quản lý và sử dụng" để "ủy quyền quản lý và sử dụng" cho người mua mới.

Với cách mua đi bán lại theo kiểu "lách luật", trốn thuế như đã nêu ở trên, sẽ xảy ra những rủi ro không lường trước được.

Nghĩa vụ làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu

Theo Khoản 3 Điều 6 Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 4/4/2014 của Bộ công an quy định về đăng ký xe: “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe”.

Về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu: Khoản 2 Điều 168 Bộ luật dân sự quy định: “Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Điều 439 Bộ luật dân sự cũng có quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản mua bán như sau: “Ðối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó”.

Theo quy định này, người mua xe có nghĩa vụ làm thủ tục đăng ký chuyển quyền sở hữu. Văn bản mua, bán giữa hai bên cần ghi rõ trách nhiệm của người mua là phải chịu mọi rủi ro từ thời điểm nhận xe và khi đó, người bán sẽ không phải chịu trách nhiệm về những rủi ro phát sinh sau khi bàn giao xe cho người mua.

Trong trường hợp người mua xe không đi làm thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật, văn bản mua, bán giữa hai bên cũng không có chứng thực của UBND phường, xã nơi cư trú vào thời điểm thực hiện giao dịch thì không thể đề nghị UBND sở tại xác nhận lại việc người bán đã bán xe ôtô đó.

'Lách luật', có nguy cơ mất trắng tài sản

Dùng hợp đồng uỷ quyền để che giấu hợp đồng mua bán, chuyển nhượng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro mà bên mua, bên nhận chuyển nhượng là người dễ mất quyền lợi nhất.

Dưới đây là một số rủi ro mà các bên có thể phải gánh chịu:

- Thứ nhất, đối với hợp đồng uỷ quyền mặc dù bên mua, bên nhận chuyển nhượng đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản nhưng mà các quyền đó của họ bị hạn chế trong phạm vi hợp đồng uỷ quyền và người chủ sở hữu thực sự là người uỷ quyền.

Và khi người được uỷ quyền muốn thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản là đối tượng của hợp đồng uỷ quyền thì cần thông qua người uỷ quyền.

- Thứ hai, hợp đồng uỷ quyền và định đoạt có thể đương nhiên chấm dứt theo quy định của pháp luật (dù các bên có thoả thuận khác) trong trường hợp “bên uỷ quyền hoặc bên được uỷ quyền chết; bị toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết” (Khoản 4 Điều 589 BLDS).

Khi đó, bên được uỷ quyền đương nhiên mất đi quyền lợi của mình đối với tài sản được uỷ quyền.

- Thứ ba, dù giao dịch mua bán trá hình đã hoàn tất, bên mua, bên nhận chuyển nhượng đã thanh toán đầy đủ và đã nhận các giấy tờ kèm theo nhưng vì 1 lý do nào đấy thì một bên vẫn có thể yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng uỷ quyền vô hiệu vì hợp đồng này được xác lập nhằm che giấu giao dịch mua bán, chuyển nhượng thuộc ý chí đích thực của các bên (Điều 129 BLDS).

- Thứ tư, vì đa phần các hợp đồng uỷ quyền này thực tế là uỷ quyền không có thù lao, nên bên ủy quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên được ủy quyền một thời gian hợp lý (Điều 588 BLDS). Như vậy, trong trường hợp này, quyền lợi của người mua không được pháp luật bảo vệ.

- Thứ năm, khi bên uỷ quyền có nghĩa vụ đối với bên thứ ba (ngân hàng, cơ quan thi hành án, đối tác…) thì bên thứ ba này có quyền yêu cầu phong toả, kê biên và phát mãi tài sản của bên uỷ quyền để đảm bảo quyền lợi của họ ngay cả tài sản là đối tượng của hợp đồng uỷ quyền.

- Thứ sáu, hiện nay, ở một số ngân hàng đặc biệt là ngân hàng nước ngoài, họ đã quá hiểu bản chất của loại hợp đồng mua bán - uỷ quyền này nên thường từ chối việc bên được uỷ quyền dùng tài sản được uỷ quyền thế chấp vay vốn tại tổ chức tín dụng của họ.

- Thứ bảy, bên bán, bên chuyển nhượng có thể ký hợp đồng uỷ quyền cho nhiều người, thực chất là đem một tài sản bán cho nhiều đối tượng.

Theo Vietnammoi

KÉO TIẾP ĐỂ XEM NỘI DUNG ...

Thoát